Luận giải
Cánh cửa Thanh Tịnh!
(Ngày đăng: 30/01/2013 - Lượt xem: 1294)

Ở thiền đường Phúc Thanh có một căn phòng được đặt tên là phòng Thanh Tịnh. Điều đặc biệt là cánh cửa dẫn vào căn phòng ấy luôn đóng kín, bên ngoài cánh cửa là một bức tranh thư pháp phác họa bài thơ thiền. Theo quy định của Thanh Chân môn, bất cứ ai muốn vào trong căn phòng đều phải dừng lại trước cánh cửa ấy, đọc hết lượt bài thơ từ đầu đến cuối. Nói là quy định, nhưng tính chất “quy định” ấy dường như chỉ đúng với người lần đầu tiên muốn bước qua cánh cửa Thanh Tịnh, còn với chúng tôi, một lần bước qua cánh cửa ấy cũng như là  một cớ để có thể thêm một lần đọc lại bài thơ. Bài thơ thiền đó có tựa là “Thanh Chân” - phương pháp tu học của Thanh Chân môn.

Đón tiếp GS Dương Viết Á tại thiền đường Thanh Chân

Tôi có may mắn hơn rất nhiều các thành viên khác của Thanh Chân môn là được làm việc ở khu văn phòng ngay sát cạnh thiền đường. Do vậy, tôi có điều kiện qua lại căn phòng đó nhiều lần, vừa là để trải nghiệm, vừa là để thực hiện trách nhiệm của mình. Đến bây giờ tôi cũng không nhớ mình đã đứng trước cánh cửa đó bao nhiêu lần để rồi từng câu từng chữ trong bài đã khảm vào trí óc mình từ khi nào không biết. Tuy nhiên, tôi vẫn luôn muốn nhìn vào cánh cửa ấy, đọc rõ ràng, rành mạch từng câu, từng chữ. Điều đặc biệt là mỗi lần bước vào căn phòng ấy, sau khi đã nhẩm lại bài thơ, những cảm xúc trong tôi đều trở nên mới lạ ở một trường nghĩa mới: sâu sắc hơn, nhưng lại hết dỗi bình dị. Tôi thường lặng lẽ ngồi xuống và nghĩ về những điều được viết trong bài thơ. Nói là một bài thơ Thiền nhưng với tôi mỗi câu thơ lại chứa đựng cả một bầu tri thức cần tìm tòi, khám phá. Và theo cách nói của người xưa thì mỗi câu thơ ấy được gọi là “Khẩu quyết chân ngôn”. Tôi cứ suy ngẫm từng ngày, từng giờ những lời khẩu quyết chân ngôn ấy. Dần dần, nó đã phần nào định hướng suy nghĩ và hành động của tôi tự lúc nào. Nhân đây, tôi xin được nói lên sự “hiểu” của mình về bài thơ Thiền này, và xin được bắt đầu bằng câu mở đầu: “Tâm quán như đài gương”.

Vẫn biết rằng vạn vật là hư ảo, không định sẵn hình tướng và luôn trong quá trình vận động, biến đổi không ngừng theo thuyết nghiệp duyên và tùy duyên. Như vậy, triết lí của nhà Phật chính là triết lí chối bỏ những điều ràng buộc hay cố định con người vào những tư duy lối mòn khuôn sáo, thậm chí an phận thủ thường chấp nhận khổ đau. Bản thân Phật Tổ cũng đã từng nói: Suốt bốn mươi chín năm thuyết pháp vừa qua, ta chưa từng nói một lời nào. Dẫn ra để thấy, điều mà Đức Phật muốn nói với các phật tử chính là tinh thần trí tuệ phải luôn tịnh tiến giác ngộ không ngừng, không lệ thuộc vào những điển lệ có sẵn, không ràng buộc mình vào những điều đang thấy, đang nghe. Đó, cũng chính là đang “phá chấp”, đang ở một giai đoạn giác ngộ cao hơn.

Với chữ “Tâm”, chúng ta ai cũng đều đã biết thuyết “Khởi tâm”, nhưng có lẽ, để hiểu, và hiểu một cách tường minh lại là điều chẳng ai dám chắc mình thông suốt. Và bản thân Lục Tổ Huệ Năng đã từng nói rằng “Bồ đề bản vô thụ/ Minh kính diệc phi đài”, nghĩa là, Bồ đề vốn không phải là cây, gương sáng chẳng (cứ) phải đài. Theo vào đó, suy rộng ra, tâm cũng chẳng phải, chẳng cần là cái đài gương.

Thế nhưng, ngay ở câu mở đầu bài Thơ Thanh Chân, tác giả lại khuyên rằng ‘Tâm quán như đài gương”? Có sự mâu thuẫn nào không giữa bức thông điệp của tác giả với giáo lí nhà Phật vốn xưa nay tôi vẫn thường tìm hiểu. Để tự tìm cho mình lời đáp thuyết phục nhất tôi đã nghiêm túc nhìn nhận thật chậm, thật kỹ lối suy nghĩ và hành xử của chính mình trong nhiều thời điểm, ở nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau. Để rồi sau đó, tôi đã hiểu được rằng, chỉ khi nào đạt được sự giác ngộ tuyệt đối, không còn chấp vào cả sắc và không, không còn chấp vào tất cả mọi lẽ trong cõi ta bà này nữa thì mới đạt đến cảnh giới của cái không (không không). Còn khi chúng ta sinh ra giữa cuộc đời này, có đầy đủ 6 giác quan  và chúng hiện hữu nhờ vào cảnh sắc của cái có ở xung quanh sự sống. Do vậy khi 6 căn gặp 6 trần thì tâm sinh. Đa tâm là do đa tính, đa tình, do những mối quan hệ không thể không có trong cuộc sống của chúng ta đưa đến. Thêm nữa, chúng ta lại không ngừng bị cuốn vào những đa tâm đó, chúng ta chỉ có thể tiết chế và tùy vào hoàn cảnh mà nương vào đó để mà chuyển hướng tình cảm, ý muốn, hành động của mình sao cho vẹn toàn, trở về với con đường thiện, đem đến an lành và thảnh thơi mà thôi. Hãy thử nhìn tấm gương kia, bản thân tấm gương không có gì cả, không có cả điểm giới hạn cuối cùng nhưng lại thấy rõ điểm giới hạn cuối cùng. Nó phản ánh rất rõ những sự vật, hiện tượng đứng trước nó. Và khi sự vật, sự việc rời khỏi nó, tấm gương lại trở về với tính không. Trong cái đó là bản thể của mặt kính. Vì vậy nếu tâm của chúng ta được sự phẳng lặng và tĩnh tại như tấm gương kia, khi sự vật đến hình ảnh rõ, khi sự vật qua đi không còn chút gì nữa thì cuộc đời sẽ an lạc biết bao.

Cả bài thơ không hề xa lạ với tôi. Và ngày hôm nay cũng như mọi ngày, bước qua cánh cửa, ngồi xuống và suy ngẫm về câu đầu tiên của bài thơ, một niềm an lạc ùa đến vây quanh. Tôi hiểu ra tất cả ý nghĩa của câu Tâm như đài gương sáng, cảm giác thật an nhiên và thư thái. Tôi hiểu và không còn nhớ nữa những giọt mồ hôi lăn dài trên trán mẹ, tần tảo, chắt chiu từng đồng nuôi chị em tôi ăn học; tôi hiểu và không còn nhớ nữa ánh mắt của cha lúc tiễn tôi lên Hà Nội nhập học dù cho ánh mắt ấy chứa đựng tất cả những tình yêu thương của người cha, luôn dõi theo bước đường đời của tôi; tôi cũng hiểu và không còn nhớ nữa những khó khăn bỡ ngỡ ngày đầu đại học và cả những buổi thức thâu đêm viết bài tiểu luận đầu đời; Tôi lại càng hiểu và không còn nhớ nữa cảm giác hạnh phúc khi có một gia đình nhỏ, được ôm con trong tay, ngắm con cười, nghe con nói và cả những lần thức đêm cùng con mỗi khi con ốm… Tôi đã không còn nhớ gì nữa vì tất cả những hình ảnh đó không còn nằm trong tâm trí tôi nữa mà đã ăn sâu vào từng giọt máu, vào mỗi tế bào trong cơ thể tôi. Tôi đã nhớ mà hoàn toàn không nhớ. Tôi đã không nhớ nhưng tất cả dường như đều đã khắc cốt ghi tâm.

Bất giác giật mình, tôi tự nhủ “Ủa, điều gì đang đến với mình thế nhỉ?” Liệu đó có phải là giây phút của sự giác ngộ, thăng hoa? Dù có hay không sự giác ngộ thì tôi vẫn cảm thấy thật tuyệt vời, thấy cay cay nơi sống mũi nhưng trong lòng lại trào dâng niềm vui, niềm hạnh phúc. Miệng tôi nở nụ cười, và ngay sau đó tôi đã ngồi viết lại những dòng cảm xúc này về sự hiểu của mình ở câu đầu tiên của bài thơ ‘Tâm sáng như đài gương”.

Tôi cũng tự đặt ra cho mình, sẽ bước từng bước để thâm nhập và học tập theo từng câu của bài thơ. Với tôi, đó cũng là một phép tu cho bản thân mình.

Thiên Lam

Các tin tức khác
Ý kiến bạn đọc (Chưa có bình luận cho bài viết)
Lấy mã khác
Đối tác
  • hatech
    BLT
    Inteli
  • Magiline
    GTF
    Vicato
  • khách hàng
    Khách hàng
    khách hàng
  • khách hàng
    trường Hoàng Diệu

Điểm báo
Dữ liệu đang được cập nhật...
thư viện hình ảnh