Luận giải
Lẽ Nhớ- Quên trong cuộc đời!
(Ngày đăng: 07/12/2012 - Lượt xem: 857)

Ngay sau khi bài thơ “Quên Nhớ Quên” của đạo trưởng Phúc Thanh đăng đàn, lập tức tại văn phòng của chúng tôi đã diễn ra một cuộc tranh luận hết sức sôi nổi và thú vị, tất cả đều xoay quanh hai từ Quên- Nhớ. Thoạt đầu khi đọc bài thơ, ai trong chúng tôi cũng chỉ nghĩ đơn giản về sự quên và nhớ, nhưng càng đọc, càng suy ngẫm mới thấy được rằng, chỉ nguyên với 2 từ quên và nhớ thôi nhưng đạo trưởng đã sử dụng vô cùng linh hoạt, dường như trong mỗi câu mỗi chữ đều chứa đựng rất nhiều lớp ý nghĩa mà không phải ai cũng có thể hiểu ngay được. Cứ như thế cuộc tranh luận của chúng tôi ngày càng hấp dẫn và gần như chưa thể đi đến hồi kết.

Như hiểu được tâm nguyện của chúng tôi, để giúp chúng tôi có cái nhìn tổng quát và trọn vẹn hơn về lẽ nhớ -quên trong cuộc đời, đạo trưởng đã dành cho chúng tôi một buổi trò chuyện, chia sẻ thông điệp mà anh gửi gắm trong bài thơ xoay quanh sự nhớ - quên đó. Xin được chia sẻ với tất cả mọi người về bài thơ này:
 
Nhớ! Quên! Quên nhớ! Quên nhớ quên!
Một vòng quên nhớ, bởi tại duyên.
Duyên quên, duyên nhớ, duyên quên nhớ.
Duyên nhớ, duyên quên, duyên nhớ quên.
 
Đời nhiều cay đắng, vì quên nhớ.
Sinh Đa tâm khổ, vì nhớ quên.
Quên nhớ, nhớ quên, đều là khổ,
Diệt khổ tâm ta, nhớ phải quên.
 
Nhớ ta nhớ phút ta quên nhớ.
Quên ta quên vọng, ta nhớ quên
Quên quên chỉ điều "ta quên nhớ"
Nhớ nhớ chỉ điều "ta nhớ quên".
 
Đạo lớn vi diệu chẳng nghĩ bàn.
Hiện qua hình tượng, thời - không gian,
Đời ta vì nhớ mà rào chắn,
Quên nhớ ta nhập đạo hoàn toàn.
 
Ai trong chúng ta cũng hiểu rằng, ký ức thuộc về ngày hôm qua, là những thứ đã qua và không bao giờ trở lại. Tương lai thuộc về ngày mai, là những thứ chưa tới và có thể sẽ chẳng bao giờ sẽ xảy ra. Bởi cuộc sống chẳng nói trước được điều gì. Chỉ có ngày hôm nay là hiện hữu, là những gì rất thật đang diễn ra, là thuộc về con người thực sự. Nhưng dường như, chúng ta đều chưa có một sự trân trọng cần thiết với hiện tại của mình, cứ chìm đắm trong những hoài niệm xa xăm hoặc ru ngủ mình bởi những ảo vọng của ngày mai, quên mất đi ngày hôm nay và nhớ những điều không thuộc về mình. Như thế, há chẳng phải là là nghịch lý?
 
 
 
Trong cuộc sống có biết bao điều chúng ta cần quên, cần nhớ và thường bị rơi vào vòng luẩn quẩn nhớ quên, khi những điều cần nhớ lại không được ta nhớ, và những điều nên quên chúng  ta lại chẳng muốn quên. Dường như, ý nghĩ quá khứ là một phần tất yếu trong hành trang để đến với tương lai luôn là ý nghĩ thường trực trong đầu óc của mỗi người.Vâng, điều ấy là chẳng cần bàn cãi, nó vô điều kiện đúng khi chúng ta nói “Uống nước nhớ nguồn”. Nó cũng vô điều kiện đúng khi chúng ta tâm niệm “Ăn quả nhớ người trồng cây”, bởi đó chính là sự kế thừa những giá trị tốt đẹp thấm đẫm chất nhân văn, là những giá trị luôn được suy tôn trong mọi xã hội, mọi thời đại. Đó là những điều chúng ta phải nhớ, phải luôn nhớ, và không bao giờ được phép quên.
 
Nhưng, cũng những suy nghĩ ấy, lấy quá khứ làm một phần hành trang cho mình trên con đường hiện tại và đi đến tương lai, khi mà quá khứ đó là những ký ức đau buồn, không như ý, đầy những nhọc nhằn và có thể đánh gục ý chí của con người trên con đường hoàn thiện bản thân, lại là một lẽ uổng phí. Chẳng phải vậy sao? Duyên nhớ, duyên quên , hay nói cách khác, chính là sự nhớ và sự quên luôn có duyên với nhau, có mối quan hệ mật thiết với nhau và tạo thành một vòng luẩn quẩn: Duyên quên, duyên nhớ, duyên quên nhớ, duyên nhớ quên…, tất cả, tất cả sẽ nhấn chìm con người ta vào vòng xoáy đầy nghiệt ngã của những vô minh khi con người đã vô tình đặt mình vào đó.
Quên điều cần phải nhớ, và nhớ những điều cần phải quên, tất cả đều là khổ, và theo nghiệp duyên, sẽ kéo theo vô vàn những nghiệp khổ đau khác nữa, chính là duyên để dẫn đến những “đa tâm”, và theo duyên ấy, lại dẫn đến những “cay đắng” khác chẳng thể nào tránh được.
 
Theo nhà Phật, con người có 8 nỗi khổ trong cuộc đời hay còn gọi là bát khổ, bao gồm: Sinh, lão, bệnh, tử, Ái biệt ly khổ, Cầu bất đắc khổ, Oán tăng hội khổ, Chấp ngũ uẩn khổ. Nếu như Sinh, lão, bệnh, tử là những điều khổ thuộc về thân thì 4 yếu tố còn lại là những nỗi khổ thuộc về tâm và chúng tạo thành “đa tâm khổ”. Yêu nhau mà phải cách xa, mòn mỏi trong nhung nhớ, đó là “ái biệt ly khổ”. Mong muốn mà không đạt được, đó là “cầu bất đắc khô”. Thù ghét nhau mà hội ngộ, gặp gỡ, là “oán tăng hội khổ”. Chấp vào bản ngã, vào những thứ bản năng và cảm xúc của bản thân và bắt nguồn từ sự “vô minh”, “tham Ái, là “Chấp ngũ uẩn khổ” (sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn)… Thành ra:
 
"Năm uẩn là gánh nặng,
Kẻ gánh nặng là người,
Cầm lấy gánh nặng lên,
Chính là khổ ở đời.”
 
Và, chính sự Nhớ - Quên không đúng cách cũng là một trong những sợ dây oan nghiệt làm nên mớ bòng bong hỗn độn khiến ta u mê mà chấp mãi với “cái ta”. Rõ ràng, khổ đau đến với con người theo một vòng luẩn quẩn như cách nó tồn tại trong tâm trí con người ta vậy. Và ký ức, một cách chung nhất, giống như hòn đá tảng đè nặng tâm trí mỗi người. Ta nhớ nó, tức là nó đeo bám ta, và hằng ngày hằng giờ, nó nhắc nhớ ta về những ngọt ngào hay những mất mát, đau khổ ta đã trải nghiệm hoặc ta đã phải gánh chịu, đã trải qua. Dù là hạnh phúc hay đau khổ, nó đều không còn tồn tại, nó đều chỉ là lớp váng của quá khứ và nó không giống như hiện tại ta đang sống.
 
Nếu ký ức đó là ngọt ngào, con người ta dễ rơi vào trạng thái lãng quên hiện tại, đắm chìm trong an vui tạm bợ do ảo giác đưa lại, và bằng lòng với những ngộ nhận sai lầm hoàn toàn không có thực. Nếu ký ức đó là đau buồn, nó vừa khiến tim ta ê buốt, mất khả năng chống đỡ với những niềm bi ai khác, vừa khiến một phần hung hãn trong ta nổi dậy trả thù, để xoa dịu những đau đớn ấy một cách bản năng, bởi phần “con” trong mỗi “con người” là một dạng bản năng, sẵn sang trỗi dậy và lấn át toàn bộ phần lương thiện và sáng suốt của con người bất cứ lúc nào có thể.
 
Để chấm dứt hoàn toàn vòng tròn luẩn quẩn đau khổ ấy, chấm dứt nỗi vòng khổ nối khổ ấy, “diệt khổ tâm ta”, chúng ta cần ghi nhớ: “Quên quên chỉ điều ta quên nhớ"- phủ định của phủ định là khẳng định, quên quên là nhớ, tức là ta chỉ nhớ điều cần phải nhớ mà ta đã quên không nhớ. “Nhớ nhớ chỉ điều ta nhớ quên"- hãy nhớ là phải nhớ việc quên đi những điều không nên nhớ. Tập cho mình thói quen nhớ, quên, quên, nhớ một cách hằng thường, liên tục, ấy chính là khi ta đã vượt qua sự trói buộc bởi những nhớ, mong vọng tưởng - cội nguồn khổ đau luẩn quẩn của chính mình. Ấy cũng chính là khi:
 
Đạo lớn vi diệu chẳng nghĩ bàn.
Hiện qua hình tượng, thời - không gian,
Đời ta vì nhớ mà rào chắn,
Quên nhớ ta nhập đạo hoàn toàn.
 
Đạo là một quy luật bất biến của tự nhiên, cái gì hòa hợp với tự nhiên sẽ trở thành đạo. Điều gì được thực hiện không còn phải dựa vào ý thức nữa, mà nó diễn ra thành thục, giản dị như tự nhiên, lẽ ấy chính là khi đã hòa hợp vào với đạo. Ở đây, sự Nhớ - Quên thuận theo lẽ của đạo và nó trở thành một điều hết sức tự nhiên trong ý thức con người, một cách chung nhất, chính là khi đạo lớn với những điều vi diệu tự nhiên sẽ trở nên gần gũi với mỗi người hơn bao giờ hết, khi chính tâm họ đã dứt khoát được với những nhớ - quên của ngày hôm qua và những vọng tưởng của ngày mai.
 
Ngày hôm qua, ngày hôm nay và ngày mai, hay chính là hình ảnh của quá khứ, hiện tại, và tương lai, đã không còn rào ngăn nào ở giữa. Và khi con người nhớ quên một cách có ý thức, cũng tức là khi, sự nhớ và quên đã trở thành tự nhiên trong tâm trí và suy nghĩ của họ. Ngay lúc ấy, đạo hiển hiện. Ngay lúc ấy, Đạo đã ở trong mỗi người. Nó chuyển hóa thành một thời gian duy nhất: ngay lúc này, ngay bây giờ; và chuyển hóa thành một không gian duy nhất: ở đây, chính tại nơi mỗi người ta đang đứng. Sống trọn vẹn ngay ở đây, ngay lúc này, cho khoảnh khắc hiện tại, cho ngày hôm nay, không vướng bận về những điều đã qua, không âu lo bởi những điều chưa đến ngày mai, chính là ta đang hoàn thiện chính bản thân mình, chính là ta đang sống tốt hơn ngày hôm qua, và là sự chuẩn bị tốt nhât cho ngày mai. Rào chắn, chướng ngại trên đường tu của mỗi “Thiền giả” nằm chính tại tâm của mỗi người.Vạn biến cũng từ tâm mà ra cả. Giải nghiệp cho tâm, khai sáng cho tâm chính là cách ta tháo gỡ những rào chắn để thênh thang đường bước  đến cõi chân tu, nhập đạo hoàn toàn. Giống như những chân lí được rút ra từ những lẽ giản đơn, bắt nguồn từ chính sự giản đơn trong tâm trí, khi tâm trí ta trở về với bản chất của nó: Soi sáng và soi chiếu.
 
Đến đây chúng ta mới hiểu được một lẽ giản dị rằng: Đỉnh cao của nhớ chính là quên, trong nhớ có quên và trong quên có nhớ. “Nhớ” là một phần không thể thiếu trong mỗi con người, bởi theo tinh thần Phật giáo, con người trong kiếp này chính là do nhân duyên hòa hợp tất cả những nghiệp duyên từ trong tất cả những đời quá khứ. Con người, do đó, bản thân đã là một sự kết hợp, tạo thành của ngũ uẩn. Đã là con người thì ai cũng có tư tưởng, ai cũng có cảm giác vui, buồn, ai cũng có những điều nhớ thương, hoài tưởng. Nhưng, có tư tưởng mà không bị chấp vào tư tưởng ấy, có vui buồn mà không bị chấp vào vui buồn ấy, có nhớ thương sầu tưởng mà không bị chấp vào nhớ thương sầu tưởng ấy, không kéo dài thời gian hưởng thụ những khoái cảm đó, nấn ná chìm đắm mình trong đó, chính là khi chúng ta đã thấm nhuần một cách thấu đáo sự vi diệu của đạo Nhớ - Quên.
 
Ngọc Lan

 

Các tin tức khác
Ý kiến bạn đọc (Chưa có bình luận cho bài viết)
Lấy mã khác
Đối tác
  • hatech
    BLT
    Inteli
  • Magiline
    GTF
    Vicato
  • khách hàng
    Khách hàng
    khách hàng
  • khách hàng
    trường Hoàng Diệu

Điểm báo
Dữ liệu đang được cập nhật...
thư viện hình ảnh